Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

18-4 (Chủ nhật) Bồng sơn - Qui nhơn 105km

7:02
KHỞI HÀNH TẠI BỒNG SƠN
Trên hành trình BỒNG SƠN - QUY NHƠN





Sáng nay tôi khởi hành tại Bồng sơn
Trước khi khởi hành tôi được đứa em tên Hiền làm trong ngành BĐS tại Sài Gòn có giới thiệu quán Bún bò Huế tại Bồng sơn ăn rất ngon.
Tuy nhiên quán này lại nằm trong hẻm sâu nên tôi tìm hoài không thấy, cuối cùng tôi quay vòng lại và hỏi anh chủ cửa hàng vật liệu xây dựng 

BÚN BÒ GIÒ 



Đèo Nhông trên 
quốc lộ 1A ở vùng ranh giới xã Mỹ Trinh và Mỹ Phong huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định. Đèo ở cách thị trấn Phù Mỹ cỡ 8,5 km về phía bắc.




14:14
Vòng xoay thị trấn Ngô Mây

 Cát Trinh, Phù Cát, Bình Định, Việt Nam





14:40

Nhà Hàng Tiệc Nam Khải Phát - 

ĐIỂM DỪNG CHÂN ĂN TRƯA 



























16:05

Chùa Thập Tháp


Chùa Thập Tháp Di Đà – ngôi cổ tự đệ nhất Bình Định

Chùa Thập Tháp Di Đà có tuổi đời trên 300 năm, là địa điểm du khách không nên bỏ qua khi khám phá mảnh đất Bình Định.

Ngôi cổ tự hơn 300 tuổi ở Bình Định


Nằm ở xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, chùa Thập Tháp Di Đà hay chùa Thập Tháp là một trong những ngôi tổ đình danh tiếng vào bậc nhất ở miền Trung. Chùa tọa lạc trên ngọn đồi mang tên Long Bích, ở phía Bắc thành Đồ Bàn của người Chăm xưa. Tên gọi “Thập Tháp” bắt nguồn từ việc trên khu đồi này từng có 10 ngôi tháp Chăm, sau bị sụp đổ và mất dần dấu tích.

Chùa được xây dựng vào năm Quý Hợi (1683) niên hiệu Chánh Hòa nhà Lê và vị thiền sư có công xây dựng chùa chính là hòa thượng họ Tạ, húy là Nguyên Thiều, quê quán ở Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông tu về Thiền Tông thuộc phái Lâm Tế. Năm Tân Mùi (1691) nhà Lê, chùa được Vua Lê Hiển Tông ban cho biển ngạch đề “Thập Tháp Di Đà tự”. Sau khi xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà, Hòa thượng Nguyên Thiều mở trường truyền đạo.





Kiến trúc của chùa Thập Tháp Di Đà


Chùa Thập Tháp Di Đà xây bằng gạch Chàm, lợp ngói âm dương, bốn vày, ba gian, hai chái, kiến trúc theo hình chữ khẩu, có hai lớp tường bao bọc chung quanh. Khu vực chính của chùa gồm có khu chính điện, khu phương trượng, khu Tây đường và Đông đường, có dãy hành lang rộng lớn nối liền, bao bọc một sân rộng, có lát gạch vuông, bày đủ các thứ cây cảnh. ở khu chính diện, kết cấu chủ yếu là gỗ quý được chạm trổ rất tinh xảo, công phu với những họa tiết hoa cuộn, hoa sen, rồng, phượng cách điệu.

Trước cổng chùa là một hồ sen rộng khoảng 500m2, mỗi độ hè về sen nở thơm ngát một vùng. Cổng chùa là hai trụ biểu vuông cao, trên đặt hai tượng sư tử ngồi uy nghi.

Sau cánh cổng là tấm bình phong đặt trên bệ chân quỳ, mặt trước đã mất các họa tiết do thời gian, mặt sau đắp nổi long mã phù đồ. Chùa có kiến trúc hình chữ Khẩu. Chính điện là công trình chính, kiến trúc theo kiểu nhà rường, gồm ba gian hai chái được kết cấu bởi 4 hàng cột cái, 4 hàng cột quân, 8 cột con và 16 cột hiên.



Chùa Thập Tháp đã trải qua 16 đời truyền thừa với nhiều vị thiền sư danh tiếng như: Thiền sư Liễu Triệt, Thiền sư Minh Lý, Thiền sư Phước Huệ … Thiền sư Phước Huệ đã được tôn làm Quốc sư. Ngài đã được mời vào giảng kinh trong Hoàng cung nhà Nguyễn từ đời Vua Thành Thái đến Vua Bảo Đại và giảng dạy Phật pháp ở Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên (Huế) từ năm 1935.























Trong tất cả chùa chiền ở miền Trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn thì chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế và được xem là chùa tổ.

Qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen, nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Chùa được trùng tu cả thảy bốn lần. Lần trùng tu đầu tiên vào năm Minh Mạng thứ nhất (1820), lần thứ hai vào năm Kỷ Tî (1849) dưới thời Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, lần thứ ba vào năm Bính Tuất (1877) dưới thời Vua Tự Đức và lần thứ tư vào năm Giáp Tý (1924) dưới triều Vua Khải Định.

Năm 1924, Hòa thượng Phước Huệ là tổ thứ 40 phái Lâm Tế và là tổ thứ 13 của phái Nguyên Thiều đứng ra xây dựng, mở rộng chùa và dựng thêm cổng Tam quan như ngày nay.

Đặc biệt, chùa còn lưu giữ 2.000 bản khắc gỗ dùng in kinh Di Đà sớ sao, Kim Cang trực sớ, Pháp Hoa khóa chú ... Bộ Đại Tạng Kinh do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ cúng dường còn 1.200 quyển kinh, luật, luận và ngữ lục. Chùa còn lưu giữ bộ Đại Tạng Kinh Cao Ly và bộ Đại Tạng Kinh Đài Loan.



























17:12

Tháp Cánh Tiên


Tháp Cánh Tiên hiện nằm trên đỉnh một quả đồi thấp cao 25m thuộc thôn Nam Tân, xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn. Trong số những tháp cổ Chăm Pa còn lại ở tỉnh Bình Định, tháp Cánh Tiên không chỉ là một trong những kiến trúc còn khá nguyên vẹn, mà còn thuộc nhóm những cụm tháp ít thấy trong lịch sử kiến trúc Chăm Pa là khu đền chỉ có một tháp, mặc dầu chỉ có một tháp đơn lẻ song hình dáng, cấu trúc của tháp Cánh Tiên lại không hề khác với các ngôi tháp vuông nhiều tầng xây bằng gạch vào loại lớn của Chăm Pa, tháp cao gần 20 mét.







HƯỚNG VỀ THÀNH PHỐ QUI NHƠN


17:50

Cầu Tân An




Cầu Gành





18:46

Ngã ba Ông Thọ

Nhơn Phú, Thành phố Qui Nhơn, Bình Định, Việt Nam




19:39

TƯỢNG ĐÀI HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG


Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại công viên Quang Trung ngay giữa trung tâm thành phố Qui Nhơn. khánh thành ngày 21-1-2008

Bức tượng đúc bằng đồng, nặng 13 tấn, cao 5,5m của họa sĩ, điêu khắc gia Lưu Danh Thanh. Lưu Danh Thanh cũng là tác giả của bức tượng Hoàng đế Quang Trung bằng chất liệu ximăng đã đặt tại vị trí này từ năm 1976.

Bức tượng Hoàng đế Quang Trung uy nghi, hoành tráng trong tư thế vung gươm trên lưng ngựa được đặt trên bệ điêu khắc cao gần 7m, thể hiện các nội dung: tụ nghĩa, hành binh, xây dựng đất nước, tạo thành một bố cục hoàn hảo, hài hòa của hai yếu tố lịch sử và mỹ thuật. Tác phẩm kiến trúc này sẽ mang tính biểu tượng của Qui Nhơn, Bình Định, quê hương của Nguyễn Huệ (1753-1792) - người anh hùng áo vải cờ đào, lãnh tụ vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn.







21:07

QUÁN CƠM MẬU 


Cơm Mậu Quy Nhơn có tên gọi đầy đủ là Cửa hàng ăn uống Mậu dịch số 179. Quán ra đời như là một nơi của những điều xưa cũ. Mang trong mình sứ mệnh tái hiện lại không gian của một thời bao cấp xưa, đem lại cảm giác gần gũi và giản dị trong những bữa cơm gia đình.








Quy Nhơn là một thành phố lớn ven biển miền Trung Việt Nam và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Bình ĐịnhViệt Nam.

Trước khi thuộc về Việt Nam, Quy Nhơn từng là đất của người Champa nên xung quanh thành phố hiện vẫn tồn tại nhiều di tích Chăm. Sau năm 1975, Quy Nhơn thành thị xã tỉnh lỵ trực thuộc tỉnh Nghĩa Bình rồi chính thức trở thành thành phố vào năm 1986. Đến năm 1989 thì trở thành tỉnh lị của Bình Định cho đến nay. Với sự phát triển không ngừng của mình, Quy Nhơn đã được thủ tướng chính phủ công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2010


Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam tỉnh Bình Định, có vị trí địa lý:

  • Phía đông giáp Biển Đông
  • Phía tây giáp huyện Tuy Phước
  • Phía bắc giáp các huyện Tuy Phước và Phù Cát
  • Phía nam giáp thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Cách Hà Nội 1.065 km về phía bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 650 km về phía nam, cách thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai) 165 km và cách thành phố Đà Nẵng 323 km.
Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lý như núi (Như núi Đen cao 361m), rừng nguyên sinh (Khu vực đèo Cù Mông), gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm (Đầm Thị Nại), hồ (Hồ Phú Hòa (Phường Nhơn Phú và phường Quang Trung), Bầu Lác (Phường Trần Quang Diệu), Bầu Sen (Phường Lê Hồng Phong), hồ Sinh Thái (Phường Thị Nại)), sông ngòi (Sông Hà Thanh), biển, bán đảo (Bán đảo Phương Mai) và đảo (Đảo Nhơn Châu – Cù lao xanh). Bờ biển Quy Nhơn dài 72 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn

Quy Nhơn được hình thành từ rất sớm, thuộc vùng đất Đàng Trong, xứ Thuận Quảng. Cách đây trên 400 năm đã xuất hiện phủ Quy Nhơn. Vùng đất này đã có lịch sử hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chăm Pa từ thế kỷ XI, dưới triều đại nhà Tây Sơn và cảng Thị Nại từ đầu thế kỷ XVIII.

Do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội và tác động sự phát triển của nền công nghiệp phương Tây vào thế kỷ XIX làm cho diện mạo Quy Nhơn thay đổi.

Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Chỉ dụ thành lập thị xã Quy Nhơn, đô thị tỉnh lỵ, là một trong những đô thị hoạt động thương mại với nước ngoài khá sầm uất lúc bây giờ.

Vào đầu thế kỷ XX, nhiều công trình mới được mọc lên như: trường học, bệnh viện, khách sạn, công sở, nhà hát, toà giám mục, hệ thống giao thông đường sắt, nhà ga...Do đó, trong 3 thập niên đầu của thế kỷ XX, Quy Nhơn nhanh chóng được đô thị hóa và trở thành một đô thị lớn ở khu vực.

Ngày 30/4/1930, Toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ra Nghị định nâng cấp thị xã Quy Nhơn lên thành phố cấp 3. Đây là một trong những đô thị ở Việt Nam thời bấy giờ đạt tiêu chuẩn cả về phương diện hành chính lẫn kinh tế, văn hóa.





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Dạo quanh phố thị