Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

10-4 Đền Sòng Sơn

 18:34 


Đền Sòng Sơn trước đây có tên là đền Sùng Trân thuộc làng cổ Đam, trang Phú Dương, phủ Hà Trung, Thanh Hóa, nay là khu phố Sáu, phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Từ Hà Nội đi Thanh Hóa, qua địa phận thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình khoảng 3 km là đến đền Sòng Sơn. Bên giòng suối Sòng trong xanh, ngôi đền thiêng tọa lạc trên thế đất “Hữu bạch hổ, tả thanh long” lại cận kề  đường Quốc lộ 1A theo hướng Hà Nội – Thanh Hóa, rất thuận lợi cho du khách vãn cảnh, thắp hương, chiêm bái.


Đền Sòng Sơn xưa được xây dựng vào năm tháng nào, đến nay vẫn chưa xác định chính xác (*) nhưng truyền thuyết kể rằng: Vào khoảng năm Vĩnh Tộ đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1628) một ông lão người làng Cổ Đam, trang Phú Dương, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung (nay là làng Cổ Đam, phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa) được tiên Chúa Liễu Hạnh nhập hồn báo mộng: “
Hãy về nói với dân làng dựng cho Ta một ngôi đền để Ta ngự, Ta sẽ phù hộ cho các người”. Vâng theo lời của tiên Chúa, vào một sáng cuối tháng Giêng, ông lão mang một cái gậy tre đến mảnh đất (nay là khu vực Đền Sòng) cắm xuống, thắp hương và khẩn cầu:“Nếu cây gậy này mà tươi tốt thì chúng con sẽ chọn đất này để lập đền tôn thờ tiên chúa ”

Ít lâu sau cây gậy tre khô ấy như có phép lạ, đã nảy lá, đâm măng, lớn lên thành bụi tươi tốt không ai dám chặt đẵn. Dân gian quen gọi là bụi tre Thần.

Nhân dân quanh vùng cho rằng nữ thần Liễu Hạnh đã ứng linh,hiểnThánh; liền kêu gọi nhau góp tiền, công, của xây dựng ngôi đền bên cạnh bụi tre Thần.

Một giá hầu trong đền Mẫu Sòng Sơn


Điện thờ Mẫu Thoảii

Các ban thờ trong điện thờ Đức thánh TRẦN HƯNG ĐẠO


10-4 Đền Dâu

 

Đền Quán Cháo nằm trong cụm di tích Đền Dâu - Quán Cháo. Đền Quán Cháo cũng là nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh. Đền Dâu chỉ cách đền quán Cháo hơn 1 km. Đền Dâu cũng nằm sát đường quốc lộ 1A. Đền Dâu cũng gắn với sự tích hóa thân của thánh mẫu vào người con gái bản địa để dạy nhân dân trồng dâu nuôi tằm.

Hai ngôi đền đều gắn bó với các truyền thuyết vừa hư vừa thực về sức mạnh và niềm tin của thiên nhiên vào cuộc sống con người, là minh chứng về vai trò của người dân Tam Điệp đối với nghĩa quân Tây Sơn trong chiến thắng Thăng Long lịch sử. Là cái gạch nối giữa cố đô Hoa Lư xưa với thủ đô Hà Nội.






10-4 Đền Quán Cháo

 16:36

Quang Trung, Tây Sơn, Tam Điệp, Ninh Bình, Việt Nam


Đền Quán Cháo nằm sát Quốc lộ 1A thuộc địa phận phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp tỉnh Ninh Bình. Đền Quán Cháo thờ Mẫu Liễu Hạnh.  Truyền thuyết cho rằng nơi đây là nơi Thánh Mẫu hiển linh giúp Vua Quang Trung lúc đưa quân ra dẹp quân Thanh.

Ngày 21-12-1788, sau khi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, ngài liền chỉ huy quân Tây Sơn hành quân thần tốc ra Bắc đánh đuổi 29 vạn quân Mãn Thanh, do Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị cầm đầu. Ngày 15-1-1789, quân Tây Sơn ra đến Tam Điệp phối hợp với quân Bắc Hà, do Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm chỉ huy. Trong 10 ngày (từ 15 đến 25-1-1789-tức từ 20 đến 30 tháng Chạp-Tết Mậu Thân) ngụ binh ở Tam Điệp và Bỉm Sơn. 

Theo truyền thuyết, trong những ngày này quân Tây Sơn được các tiên nữ dâng cháo thần, nhờ vậy nghĩa quân Tây Sơn thêm mưu trí, dũng mãnh chiến đấu, quét sạch quân xâm lược. Chỉ trong 5 ngày xuất quân, 5 đạo quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh, đúng như những lời huấn dụ của Vua Quang Trung tại lễ thệ sư (lễ thề của các tướng sĩ) tại Thanh Hóa: "Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn; đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Tạm dịch: Đánh cho nó một chiếc xe để chạy về nước cũng không có/ Đánh cho nó một mảnh giáp cũng chẳng còn/ Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng là có chủ)

Sự tích đền quán Cháo

Đền Quán Cháo gắn liền với sự tích tiên nữ dâng cháo cho quân lính Tây Sơn trước giờ xung trận. Nói đến đền Quán Cháo, không thể bỏ qua chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung. Trận đại phá quân Thanh như một hào quang sáng rực trong lịch sử nước nhà. Di tích lịch sử đền Quán Cháo gắn liền với huyền thoại Thánh mẫu đã biến thành cô gái bán hàng cháo, để dâng cháo cho quân lính Tây Sơn và cứu giúp những người cơ nhỡ độ đường và ứng đối thơ phú với bao nhiêu tao nhân mặc khách. Đến nay trong dân gian còn truyền tụng câu ca đồng giao:
   "Ăn trầu nhớ miếng cau khô
 Trèo lên Ba dội nhớ cô bán hàng."

10-4 Ninh Bình - Thanh Hóa 135km



5:46

Việt Anh Hotel



6:37

Chùa Kỳ Lân

Ngôi chùa trên đảo ngọc gắn với “Tứ đại danh sơn” của đất Ninh Bình

Núi Kỳ Lân cùng với 3 ngọn núi khác (núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước, núi Lớ) được mệnh danh là Tứ đại danh sơn của vùng đất Ninh Bình. Sở dĩ có tên Kỳ Lân vì ngọn núi cao trên 50m này có hình đầu con lân nhìn về phía Bắc, sườn núi có chỗ hõm tạo hình giống hàm của con lân.
Chùa Kỳ Lân nằm trên đỉnh núi Kỳ Lân - một hòn đảo núi tọa lạc tại phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình. Núi Kỳ Lân nằm cạnh quốc lộ 1A và đại lộ Tràng An nối trung tâm thành phố đi các khu du lịch Tràng An - Hoa Lư - chùa Bái Đính.




Bức phù điêu tạc bằng đá trước cửa đền thờ Quận chúa.

Ban thờ Quận Chúa

Đền thờ quận chúa dưới chân núi.


Để đi vào núi Kỳ Lân, có hai cây cầu đá bắc qua hồ dẫn lối. Hồ Kỳ Lân là một hồ nước ngọt rộng lớn bao quanh núi Kỳ Lân – ngọn núi bát ngát một màu xanh cây cỏ nên người ta ví như hòn đảo ngọc. Trên hồ Kỳ Lân hiện đã xây dựng một tòa bảo tháp và những tòa sen để ban đêm phát sáng. Có một tòa tháp nữa trên đảo hiện cũng đang hoàn thiện. 






Chụp ké

KHÁCH SẠN HOA LƯ - HOA LU HOTEL



7:11
41-37 Đường 1, Đông Thành, Ninh Bình


9:32 

Sửa xe tại cửa hàng Xe Đạp Đức Huy

75-45 Trương Hán Siêu, Phú Thành, Ninh Bình




12:54

Chùa Vàng


Thuộc địa phận xã Ninh Nhất và cách trung tâm thành phố Ninh Bình chưa tới 1 km, khi nhìn từ trên cao, chùa vàng có vẻ đẹp như một bức tranh thủy mặc. Ngôi chùa được tọa lạc ngay giữa hồ Cá Voi ở phía Tây của thành phố, một phía giáp với trục đường Tràng An, một phía còn lại giáp với xã Ninh Nhất. Chùa Vàng được xây dựng trên một hòn đảo nhỏ xinh đẹp cùng tên có tổng diện tích lên tới 28 ha.

Ngôi Chùa Vàng được thiết kế xây dựng trên bệ đá xanh với kiến trúc gồm 3 tầng mái hình bát giác 8 cạnh đều nhau, quay ra 8 hướng tượng trưng thờ 8 vị xưng Vua. Các chi tiết kiến trúc được liên kết với nhau với kĩ thuật mộc truyền thống theo không gian ba chiều tạo cho kiến trúc chùa vừa thanh thoát vừa vững chãi, uy nghi hiếm nới nào có được.


Động chùa Bàn Long


Chùa Bàn Long là một ngôi chùa cổ nằm trong động của dãy núi Đại Tượng thuộc thôn Khê Đầu Thượng, xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đây là ngôi chùa được hình thành từ trước thời Đinh, cách đây hơn 10 thế kỷ.

Bàn Long là ngôi chùa thiên tạo và nhân tạo. Chùa nằm gọn trong Đại Tượng sơn, núi Đại Tượng mang dáng hình một con voi khổng lồ cao khoảng 200m chầu về kinh đô Hoa Lư xưa. Tương truyền chùa được phát hiện bởi những người tiều phu lên rừng đốn củi, thấy trong động có rồng cuộn nên lập chùa.

Sở dĩ có tên gọi là Bàn Long là bởi nơi đây từng là nơi chúa Trịnh Sâm ghé thăm và đề lại ba chữ "Bàn Long tự", có nghĩa là bệ đá rồng cuộn mình. Bên cạnh đó, trong chùa còn có nhũ đá hình rồng ngồi rất kì bí. Người dân ở đây truyền tai nhau câu chuyện linh thiêng nếu như lúc vảy rồng long lanh tỏa sáng thì dù trời có hạn hán đến đâu cũng sẽ có mưa, thế nên chùa Bàn Long hằng năm đều có lễ cầu mưa.



Chùa Bàn Long không xây Tam Quan, trước khi vào chùa phải đi qua một cây cầu đá cong cong. Những phiến đá xanh nguyên khối lớn đã được chạm, khắc ghép thành cầu. Đi qua cầu vào trong động, không gian rộng thoáng mùi hương lan tỏa chốn linh thiêng. Phía bên trái là tượng A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối uy nghi được tạo dựng từ khi lập chùa. Đây là một pho tượng phật bằng đá cổ xưa nhất còn để lại đến ngày nay.

Điều đặc biệt dưới pho tượng là ổ rồng đá cuộn tròn do tạo hóa kiến tạo thành. Xung quanh các tượng Phật trên các vách động là những nhũ đá mà tạo hóa đã chạm khắc thành bốn con vật linh thiêng là Long, Ly ,Quy, Phượng. Tứ linh đá đó đều chầu về các tượng Phật đối xứng qua hai trục ngang và dọc mà tâm là tượng Thích Ca Sơ Sinh. Vách đá cao ở giữa động còn có một nhũ đá theo các du khách là giống hình tượng Phật đang cưỡi ngựa trắng đó là điều linh thiêng kì lạ mà chỉ có động Bàn Long mới có.

Mỗi không gian ở chùa Bàn Long lại được thiên nhiên tạo nên những bức điêu khắc tinh tế, ấn tượng mà linh thiêng. Chùa Bàn Long nép mình trong động, giữa một vùng non xanh nước biếc, từ lâu đã là điểm đến linh thiêng với nhiều người. Cho đến nay, khi du lịch Ninh Bình ngày càng phát triển, Chùa Bàn Long lại càng trở nên nổi tiếng là một trong những điểm du lịch của Ninh Bình không chỉ đậm dấu ấn tâm linh, mà còn thu hút du khách bởi những nét độc đáo có một không hai của mình.






Di sản Tràng An - Ninh Bình








Hầm chui đường Tràng An
Khu nhà hàng Tràng An
Tràng An, Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình





14:09

Cố đô Hoa Lư


Quanh chổ tôi đứng Flycam còn có các khu du lịch:




14:30

Nhà hàng Cường Dê




15:26

Điểm chụp ảnh cưới









16:36

Đền Quán Cháo


Đền Quán Cháo nằm sát Quốc lộ 1A thuộc địa phận phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp tỉnh Ninh Bình. Đền Quán Cháo thờ Mẫu Liễu Hạnh.  Truyền thuyết cho rằng nơi đây là nơi Thánh Mẫu hiển linh giúp Vua Quang Trung lúc đưa quân ra dẹp quân Thanh.

Ngày 21-12-1788, sau khi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, ngài liền chỉ huy quân Tây Sơn hành quân thần tốc ra Bắc đánh đuổi 29 vạn quân Mãn Thanh, do Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị cầm đầu. Ngày 15-1-1789, quân Tây Sơn ra đến Tam Điệp phối hợp với quân Bắc Hà, do Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm chỉ huy. Trong 10 ngày (từ 15 đến 25-1-1789-tức từ 20 đến 30 tháng Chạp-Tết Mậu Thân) ngụ binh ở Tam Điệp và Bỉm Sơn. 

Theo truyền thuyết, trong những ngày này quân Tây Sơn được các tiên nữ dâng cháo thần, nhờ vậy nghĩa quân Tây Sơn thêm mưu trí, dũng mãnh chiến đấu, quét sạch quân xâm lược. Chỉ trong 5 ngày xuất quân, 5 đạo quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh, đúng như những lời huấn dụ của Vua Quang Trung tại lễ thệ sư (lễ thề của các tướng sĩ) tại Thanh Hóa: "Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn; đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Tạm dịch: Đánh cho nó một chiếc xe để chạy về nước cũng không có/ Đánh cho nó một mảnh giáp cũng chẳng còn/ Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng là có chủ)

Sự tích đền quán Cháo

Đền Quán Cháo gắn liền với sự tích tiên nữ dâng cháo cho quân lính Tây Sơn trước giờ xung trận. Nói đến đền Quán Cháo, không thể bỏ qua chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung. Trận đại phá quân Thanh như một hào quang sáng rực trong lịch sử nước nhà. Di tích lịch sử đền Quán Cháo gắn liền với huyền thoại Thánh mẫu đã biến thành cô gái bán hàng cháo, để dâng cháo cho quân lính Tây Sơn và cứu giúp những người cơ nhỡ độ đường và ứng đối thơ phú với bao nhiêu tao nhân mặc khách. Đến nay trong dân gian còn truyền tụng câu ca đồng giao:
   "Ăn trầu nhớ miếng cau khô
 Trèo lên Ba dội nhớ cô bán hàng."


17:10

Đền Dâu

Nam Sơn, Tam Điệp, Ninh Bình, Việt Nam

Đền Quán Cháo nằm trong cụm di tích Đền Dâu - Quán Cháo. Đền Quán Cháo cũng là nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh. Đền Dâu chỉ cách đền quán Cháo hơn 1 km. Đền Dâu cũng nằm sát đường quốc lộ 1A. Đền Dâu cũng gắn với sự tích hóa thân của thánh mẫu vào người con gái bản địa để dạy nhân dân trồng dâu nuôi tằm.

Hai ngôi đền đều gắn bó với các truyền thuyết vừa hư vừa thực về sức mạnh và niềm tin của thiên nhiên vào cuộc sống con người, là minh chứng về vai trò của người dân Tam Điệp đối với nghĩa quân Tây Sơn trong chiến thắng Thăng Long lịch sử. Là cái gạch nối giữa cố đô Hoa Lư xưa với thủ đô Hà Nội.







15:47

Đền Rồng


Đền Rồng - đền Nước là cụm di tích nằm trên địa bàn thôn Nghĩa Đụng, xã Hà Long (Hà Trung). Đền Rồng là nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn, còn được gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu, hay Mẫu Đệ Nhị, cai quản miền rừng núi, gắn bó với con người cùng cỏ, cây, chim, thú. Đền Rồng được gọi theo vị trí đền tọa lạc ngay sát chân núi Rồng. Đền Nước là nơi thờ Mẫu Thoải, còn gọi là Thủy Cung Thánh Mẫu, hay Mẫu Đệ Tam, cai quản vùng sông nước. Tên gọi đền Nước là do đền nằm ngay phía trước hang đá - đầu nguồn của dòng suối nước trong mát quanh năm. Hiện nay, Nhân dân địa phương chỉ gọi với một cái tên chung đền Rồng - đền Nước.

Mẫu Thượng Ngàn là một trong ba vị Mẫu được thờ cúng tại điện Mẫu của người Việt, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Việc thờ phụng Mẫu Thượng Ngàn là một đặc điểm của tín ngưỡng gắn liền với núi rừng của người Việt. Bà là một nhân vật mang tính truyền thuyết và đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu. 

Theo sách “Các nữ thần Việt Nam”, bà là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và công chúa Mỵ Nương - con gái vua Hùng Vương. Sau khi kết hôn, Sơn Tinh và công chúa Mỵ Nương sinh được một người con trai lấy tên Mai và một người con gái lấy tên La Bình. La Bình là người con gái tuyệt sắc, có nhiều tài nghệ. Nàng thường theo cha đi khắp các núi non, hang động. Đi đến đâu nàng cũng quyến luyến với phong cảnh, làm bạn với hươu nai, cây cỏ, mây ngàn. Các vị sơn thần đều quý mến nàng và thường được nàng bảo ban, giúp đỡ. Thượng đế hay tin rất khen ngợi và phong cho nàng làm Thượng Ngàn công chúa, cai quản tất cả cửa rừng. 

Trở thành bà chúa của rừng xanh, La Bình luôn chăm chỉ làm tròn trách nhiệm của mình. Nữ thần dạy cho các loại muông thú, chim chóc cách sinh sống, leo trèo, múa hát; phạt các loài ác thú gây hại cho muôn loài. Bà cũng rất chú ý đến giang sơn nước Việt, đã hai lần hiển linh phù trợ cho tướng sĩ nhà Lý và nhà Trần đánh thắng quân giặc ngoại xâm. Bà còn rất yêu thương dân chúng. Những người phải trèo đèo, vượt suối thường được bà phù hộ che chở cho chân cứng đá mềm. Vì vậy, dân chúng không chỉ tôn bà là chúa, mà còn gọi một cách cung kính là Mẫu Thượng Ngàn.

Mẫu Thoải là Mẫu đứng thứ ba trong hàng ngự tại Tam Tòa Thánh Mẫu. Huyền thoại và thần tích của bà tùy theo từng nơi có nhiều khác biệt, tuy nhiên đều có nét chung cơ bản đó là vị thần trị vì vùng sông nước, xuất thân từ dòng dõi Long Vương. Có thuyết nói bà có tên thật là Nhữ Nương, kết hôn với vị vua dưới nước là Thủy Tề. Vua Thủy Tề cai quản biển cả, còn bà cai quản sông suối trên đất liền. 
Do sông suối trải dài khắp mọi nơi có sông suối, Nhân dân lập đền để kính mong Mẫu phù hộ độ trì bình an khi đi lại trên sông nước. Có thuyết lại nói Mẫu Thoải không phải là một bà mà chính là nhiều bà. Các bà đều là con của Lạc Long Quân. Các Mẫu Thoải này trông coi việc sông, biển, làm mưa, chống hạn, chống lũ lụt. Các bà còn có công cứu giúp các vị tướng lĩnh và nhà vua đi chinh chiến dẹp giặc.


Cụm di tích đền Rồng - đền Nước là nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải trong hệ thống thờ Mẫu của người Việt. Qua đó cũng cho thấy cuộc sống con người nơi đây với bao vất vả trong quá trình lao động, vật lộn với thiên tai, lũ lụt, giặc giã để sinh tồn, phát triển. Họ luôn cầu mong được các vị thần bảo hộ, che chở cho cuộc sống của dân làng được bình an, hạnh phúc. Vì thế mà huyền thoại, huyền tích về các nữ thần đã hóa thân vào cuộc sống con người, bảo vệ sự bình yên và đem lại mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân chúng ấm no, hạnh phúc.


Đền Rồng - đền Nước có ảnh hưởng rộng của tín ngưỡng văn hóa thờ Mẫu ở vùng đất này, cho nên lễ hội đền Rồng - đền Nước được tổ chức với quy mô rộng rãi, thu hút Nhân dân trong làng, xã và khách thập phương về dự. Lễ hội thường được tổ chức vào ngày 24-2 âm lịch hàng năm, với nghi thức rước kiệu linh đình từ đền Rồng sang đền Nước. Lễ hội được diễn ra với mong muốn mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh. Ngoài ra, ngày rằm và mùng 1 hàng tháng Nhân dân đều đến đây tế lễ, cầu mong mọi sự bình an. Đây cũng là nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân trồng lúa nước.



Đền Rồng có một địa thế “Hậu tựa sơn, tiền đạp thủy”. Phía trước là cây cầu lặng mình vắt qua dòng suối, sau lưng là núi Rồng thuộc dãy núi Tam Điệp dựng đứng sừng sững. Nơi đây quả thực là một phong cảnh “Sơn thủy hữu tình”, một không gian thơ mộng và đầy linh thiêng. 

Đền Rồng có cấu trúc gồm: Nghi môn, sân, nhà Mẫu, đền Đức Ông, nhà thờ Phật và nhà kho. Sau khi chiêm bái đền Rồng, men theo một lối nhỏ bên sườn núi khoảng hơn 500m là đến đền Nước. 

Đền Nước nằm bên cạnh một sườn núi sát với một con suối quanh năm trong vắt. Trong khuôn viên khu vực đền Nước có cấu trúc gồm: Sân, đền chính, động Sơn Trang. Các hiện vật, đồ thờ trong đền Rồng - đền Nước cũng được bài trí theo một quy định trình tự nhất định, làm tôn lên vẻ đẹp và linh thiêng của các vị thần được thờ trong những ngôi đền này.




18:34

Đền Sòng Sơn


Đền Sòng Sơn trước đây có tên là đền Sùng Trân thuộc làng cổ Đam, trang Phú Dương, phủ Hà Trung, Thanh Hóa, nay là khu phố Sáu, phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Từ Hà Nội đi Thanh Hóa, qua địa phận thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình khoảng 3 km là đến đền Sòng Sơn. Bên giòng suối Sòng trong xanh, ngôi đền thiêng tọa lạc trên thế đất “Hữu bạch hổ, tả thanh long” lại cận kề  đường Quốc lộ 1A theo hướng Hà Nội – Thanh Hóa, rất thuận lợi cho du khách vãn cảnh, thắp hương, chiêm bái.


Đền Sòng Sơn xưa được xây dựng vào năm tháng nào, đến nay vẫn chưa xác định chính xác (*) nhưng truyền thuyết kể rằng: Vào khoảng năm Vĩnh Tộ đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1628) một ông lão người làng Cổ Đam, trang Phú Dương, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung (nay là làng Cổ Đam, phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa) được tiên Chúa Liễu Hạnh nhập hồn báo mộng: “
Hãy về nói với dân làng dựng cho Ta một ngôi đền để Ta ngự, Ta sẽ phù hộ cho các người”. Vâng theo lời của tiên Chúa, vào một sáng cuối tháng Giêng, ông lão mang một cái gậy tre đến mảnh đất (nay là khu vực Đền Sòng) cắm xuống, thắp hương và khẩn cầu:“Nếu cây gậy này mà tươi tốt thì chúng con sẽ chọn đất này để lập đền tôn thờ tiên chúa ”

Ít lâu sau cây gậy tre khô ấy như có phép lạ, đã nảy lá, đâm măng, lớn lên thành bụi tươi tốt không ai dám chặt đẵn. Dân gian quen gọi là bụi tre Thần.

Nhân dân quanh vùng cho rằng nữ thần Liễu Hạnh đã ứng linh,hiểnThánh; liền kêu gọi nhau góp tiền, công, của xây dựng ngôi đền bên cạnh bụi tre Thần.

Một giá hầu trong đền Mẫu Sòng Sơn


Điện thờ Mẫu Thoảii

Các ban thờ trong điện thờ Đức thánh TRẦN HƯNG ĐẠO




20:14

BẢNG ƯỚNG DẪN ĐẾN ĐỀN BÀ TRIỆU








Kết thúc hành trình dừng chân tại TP Thanh Hóa 

Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện. Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh miền Trung, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nối dài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Thanh Hóa là một tỉnh lớn về cả diện tích và dân số, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính tỉnh trực thuộc nhà nước, cũng là một trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt cổ.

Cách đây khoảng 6.000 năm đã có người sinh sống tại Thanh Hóa. Các di chỉ khảo cổ cho thấy nền văn hóa xuất hiện đầu tiên tại đây là văn hóa Đa Bút. Sang đầu thời đại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với các giai đoạn trước văn hóa Đông Sơn, Thanh Hóa đã trải qua một tiến trình phát triển với các giai đoạn văn hoá: Cồn Chân Tiên, Đông Khối - Quỳ Chữ tương đương với các văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun ở lưu vực sông Hồng. Và sau đó là nền văn minh Văn Lang cách đây hơn 2.000 năm, văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hóa đã phát triển rực rỡ.

Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.120,6 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi. Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18.000 km².


Dạo quanh phố thị