XUẤT PHÁT HÀNH TRÌNH HUẾ - ĐÀ NẴNG
6:30
| Một quán cà phê bên đường giữa lòng thành phố Huế |
Phu Văn Lâu nằm gần bờ Bắc sông Hương, tại dải đất chạy ngang qua trước mặt Kinh thành và ở ngay trên trục chính của quần thể kiến trúc cố đô Huế: Điện Thái Hòa - Ngọ Môn - Kỳ Đài - Phu Văn Lâu - Nghinh Lương Đình - Hương Giang - Ngự Bình.
Tòa lầu này dùng làm nơi niêm yết các văn bản mà triều đình nhà Nguyễn cần bố cáo cho thần dân được biết: những chiếu chỉ của nhà vua hay bảng kết quả các cuộc thi Hội, thi Đình. Ngoài ra, đây cũng là nơi triều đình tổ chức các cuộc lễ khánh hỷ mang tính quốc gia có sự hiện diện của nhà vua, triều thần và dân chúng.
Tại vị trí Phu Văn Lâu trước đây, triều đình (đầu thời Gia Long) đã cho xây một công trình kiến trúc tương đối nhỏ, mang tên Bảng Đình (Đình treo bảng). Đến năm 1819 cũng dưới thời Gia Long được thay thế bằng một tòa nhà hai tầng và đổi tên thành Phu Văn Lâu.
Năm 1843, vua Thiệu Trị cho dựng nhà bia bên tay phải lầu để khắc bài thơ “Hương Giang hiểu phiếm” (Buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương).
Trong gần 190 năm tồn tại, Phu Văn Lâu được trùng tu khoảng 10 lần, lần sớm nhất vào năm 1905 (sau cơn bão năm Thìn, 1904, Phu Văn Lâu bị hư hỏng nặng), lần gần đây là vào năm 1994, 1995. Qua nhiều lần trùng tu nhưng về phương diện kết cấu kiến trúc không có gì thay đổi đáng kể.
Phu Văn Lâu là một tòa nhà lầu cao 11,67m, mái lợp ngói ống tráng men vàng (hoàng lưu ly), tòa nhà có 16 cột sơn màu đỏ sậm (4 cột chính xuyên suốt cả hai tầng, 12 cột quân), có hệ thống lan can bao xung quanh, không gian tầng dưới hoàn toàn để trống. Tầng hai, bốn mặt đều dựng đố bản, kiểu đồ lụa khung tranh, hai bên trổ cửa sổ tròn, lan can bên ngoài bằng gỗ, trên của sổ mặt tiền có treo hoành phi sơn son thếp vàng, trang trí dây lá cách điệu “lưỡng long triều nguyệt”. Trong lần tu sửa năm 1974, người ta đã thay thế một số kết cấu gỗ cột, kèo, xuyên bằng xi măng cốt thép.
Phu Văn Lâu là một tác phẩm tạo hình xinh đẹp của triều Nguyễn, một di sản đặc sắc trong quần thể kiến trúc Cố đô.
Cửa Quảng Đức (cửa Sập)
Cửa Chương Đức
Chương Đức Môn là cửa thành phía tây của Hoàng Thành Huế, một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của quẩn thể di tích Cố đô Huế. Theo các tài liệu của triều Nguyễn, cửa Chương Đức được xây dựng vào năm 1804 cùng với việc xây dựng Hoàng Thành, tuy nhiên lúc đó nó mới có cách thức đơn giản và chưa có vọng lâu. Đến năm 1811, cửa Chương Đức được cải tạo và xây thêm phần vọng lâu bên trên, cùng đợt với 2 cửa Hiển Nhơn, Hoà Bình. Từ đây trở đi, cửa Hiển Nhơn mang kiểu thức của một tam quan khung gỗ tiêu biểu thời Nguyễn, nghĩa là cửa gồm 3 gian, mỗi gian mở 1 cửa, bên trên có vọng lâu, phần mái được cắt thành nhiều tầng.
Năm 1826, cửa Chương Đức được tu bổ và đến năm 1830 lại được tu bổ một lần nữa nhân dịp chuẩn bị lễ Tứ tuần Đại khánh của vua Minh Mạng.
Lần cải tạo quan trọng nhất của cửa Chương Đức là vào năm 1921 thời vua Khải Định. Trong lần này, người ta đã hạ giải hoàn toàn kết cấu gỗ của tam quan cũ và xây dựng lại trên nền cũ với quy mô lớn hơn một tam quan đồ sộ 2 tầng hoàn toàn bằng gạch, vôi vữa với hình thức trang trí đắp gắn mảnh sành sứ rất tiêu biểu của phong cách thời Khải Định
Trung chuyển hầm Hải Vân phía Bắc
17:27
Cầu Lăng Cô
ĐÈO HẢI VÂN
Theo sử liệu, trước năm Bính Ngọ (1306), vùng đất có đèo Hải Vân thuộc về hai châu Ô, Rí của vương quốc Champa (còn gọi là Chiêm Thành). Sau khi được vua Champa là Chế Mân cắt làm sính lễ cầu hôn Công chúa Huyền Trân đời Trần vào năm 1306, thì ngọn đèo chính là ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành.
Khoảng một thế kỷ sau, vào năm Nhâm Ngọ (1402), nhà Hồ (dưới triều Hồ Hán Thương) sai tướng Đỗ Mãn đem quân sang đánh Chiêm Thành, khiến vua nước ấy là Ba Đích Lại (Jaya Sinhavarman V) phải cắt đất Chiêm Động và Cổ Lũy để cầu hòa. Kể từ đó, cả vùng đất có đèo Hải Vân mới thuộc hẳn về nước Đại Ngu (tức Việt Nam ngày nay), và trở thành ranh giới tự nhiên của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam, như sách Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã chép: "Hải Vân dưới sát bờ biển, trên chọc từng mây là giới hạn của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam
Trong nhiều thế kỷ, đường Cái Quan (nay là Quốc lộ 1A) băng qua đèo Hải Vân rất ít người dám qua lại, bởi đường nguy hiểm, thú dữ và kẻ cướp...Bởi vậy mà văn hóa giữa hai miền Bắc-Nam ít được giao lưu. Về sau, con đường này đã thông thoáng hơn (dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đã cho xây dựng tuyến đường sắt quanh co qua con đèo này).
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa vì cơ nguy tai nạn giao thông trên con đường hẹp nên việc qua lại trên đèo được điều hành bằng cách đặt 3 trạm kiểm soát: 1 ở Lăng Cô, 1 ở đỉnh đèo, và 1 ở Liên Chiểu, hạn chế xe phải đi thành đoàn cùng lên đèo hoặc cùng xuống đèo để giảm tai nạn xe đâm nhau ngược đường. Xe từ Lăng Cô hay Liên Chiểu phải đợi tụ thành một đoàn rồi bắt đầu trèo đèo cùng một lượt. Đến đỉnh đèo thì đoàn xe dừng lại ở trạm kiểm soát và rồi xuống đèo cùng một lượt cho đến qua khỏi trạm kiểm soát ở chân đèo. Như vậy suốt đoạn đường đèo chỉ có một chiều xe chạy.
Năm 1966 lực lượng công binh Seabee của binh chủng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ nới rộng đường xa lộ qua đèo thì việc giao thông không phải đợi ở ba trạm kiểm soát kể trên nữa.
Nói về Hải Vân, ca dao Việt Nam có câu:
- Chiều chiều mây phủ Ải Vân
- Chim kêu ghềnh đá gẫm thân lại buồn.
Địa thế hiểm trở của Hải Vân cũng được nhắc đến trong câu:
- Đường bộ thì sợ Hải Vân
- Đường thủy thì sợ sóng thần hang Dơi.
Thơ đề vịnh về ngọn đèo này cũng có nhiều, song đáng chú ý có bài thơ chữ Nho "Vãn quá Hải Vân quan" (晚過海雲關) của nhà chí sĩ Trần Quý Cáp (1870-1908),
- Thôi ngôi vạn nhận cổ hùng quan 崔嵬萬仞古雄關
- Kỷ độ đăng lâm phủ ngưỡng gian 幾度登臨俯仰間
- Sầu nhãn vọng cùng thương hải ngoại 愁眼望窮滄海外
- Nộ quyền huy phá bạch vân đoan 怒拳揮破白雲端
- Cô chu phân điệu hoang thôn mộ 孤舟分掉荒村暮
- Quyện điểu đầu lâm cổ mộc hàn 倦鳥投林古木寒
- Thất lý oanh hồi xuyên quá hậu 七里縈迴穿過後
- Uất thông giai khí Ngũ Hành sơn 鬱蔥佳氣五行山
tạm dịch ra Việt văn như sau:[12]
- Hùng quan chất ngất đỉnh non xây,
- Bước đã quen nơi cúi ngửa này.
- Sầu ngập mắt trông ngàn dặm biển,
- Giận tung quyền phá bốn bề mây.
- Chiều quang mái trú đìu hiu bến,
- Mỏi đáp rừng chim lạnh lẽo cây.
- Bảy dặm quang co đèo vượt khói,
- Non Hành giai khí ngút trời bay.
Đêm trên đèo Hải vân phủ xuống rất nhanh |
Trên hành trình này cũng chỉ có đơn độc một mình tôi với bóng tối. |
Bịch chè đậu xanh đánh mà tôi mua dưới chân đèo |
Tôi đem bịch chè của mình đem chia sẻ với các vị |
![]() |
| Hình trên Internet - nôi tôi ghé qua trong đêm |
Đỉnh đèo Hải Vân
19:50
Đoạn cua tay áo đèo Hải Vân
Cầu Rồng là cây cầu thứ 7 và là cây cầu mới nhất bắc qua sông Hàn. Vì cây cầu có hình dáng giống một con rồng nên được gọi là Cầu Rồng
Cầu Rồng dài 568 m và rộng 37,5 m với 6 làn xe chạy. Cầu được khởi công xây dựng vào ngày 19/7/2009 và chính thức thông xe ngày 29 tháng 3 năm 2013, kinh phí xây cầu gần 1,5 nghìn tỷ đồng (US$88m). Cầu được thiết kế bởi Ammann & Whitney Consulting Engineers với tập đoàn Louis Berger. Việc xây dựng được thực hiện bởi Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1.
Cây cầu hiện đại này bắc qua sông Hàn tại bùng binh (cũ) Lê Đình Dương/Bạch Đằng, tạo con đường ngắn nhất từ sân bay quốc tế Đà Nẵng tới các đường chính trong thành phố Đà Nẵng, và một tuyến đường trực tiếp đến bãi biển Mỹ Khê và bãi biển Non Nước ở rìa phía đông của thành phố.
Cầu được thiết kế và xây dựng với hình dạng của một con rồng có khả năng phun lửa và phun nước. Hiện tại, thời gian phun lửa và phun nước bắt đầu vào lúc 21 giờ các ngày thứ bảy, Chủ nhật hàng tuần và các ngày lễ lớn
22:11
40-66 Nguyễn Văn Siêu, An Hải Trung, Sơn Trà, Đà Nẵng
Đà Nẵng là một thành phố trực thuộc trung ương, nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, là thành phố trung tâm và lớn nhất khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Thành phố Đà Nẵng là thành phố tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực; trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội với vai trò là trung tâm công nghiệp, tài chính, du lịch, dịch vụ, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học - công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên và cả nước; trung tâm tổ chức các sự kiện tầm khu vực và quốc tế. Thành phố Đà Nẵng đóng vai trò hạt nhân, quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đồng thời cũng là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam, đô thị loại I, trung tâm cấp quốc gia, cùng với Hải Phòng và Cần Thơ.
Đà Nẵng là một tên dịch theo kiểu dịch âm kiêm dịch ý một phần, nếu phiên âm Hán-Việt thì đọc thành Đà Nhương, địa danh cần dịch đã được dịch bằng chữ Hán có âm đọc (âm Hán Việt) tương cận, ý nghĩa của chữ Hán dùng để dịch có liên quan nhất định với ý nghĩa của tên gọi được dịch. Phần lớn các ý kiến đều cho rằng tên gọi Đà Nẵng xuất phát từ vị trí nằm ở cửa sông Hàn của thành phố. Đó là một biến dạng của từ Chăm cổ "Da nak", được dịch là "cửa sông lớn"

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét